Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WEB THỐNG KÊ GDTH

    Tư liệu

    Dieu_che_oxygen.flv 2207243317987427219.flv 355.JPG Bao_cao_chuyen_de_thang_9.JPG 9818EAE08260474CAC594DAF8F3DDF2F.flv 981EFD781C4940388FC14A5734415246.flv Xa.jpg 53302355_2292613371013010_8821122614140338176_n.jpg Anh_Giao_luu_Van_hay_chu_dep_chao_mung_ngay_2011_2018.jpg IMG20181109070531.jpg Thu.jpeg Thao.jpeg Linh.jpeg CA_NHAN_DAT_GIAI.jpeg CA_NHAN_LAM_BAI.JPG CA_NHAN_2.JPG Anh_vo_giao_luu.JPG IMG20180920165017.jpg IMG20180920165038.jpg IMG20180920165038.jpg

    Thành viên trực tuyến

    6 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Tra cứu Từ điển


    Tra theo từ điển:



    Tham khảo lịch vạn niên

    Thời tiết vùng Nghệ Tĩnh

    Đọc Báo mới

    Tuyến tụy

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: sưu tầm
    Người gửi: Lê Đình Toàn
    Ngày gửi: 11h:02' 05-07-2011
    Dung lượng: 112.0 KB
    Số lượt tải: 26
    Số lượt thích: 0 người
    Tuyến tuỵ nội tiết
    1. Hormon tuyến tuỵ 
    Tuỵ (Pancreas hay islets of Langerhans) là một tuyến pha bao gồm phần tuỵ ngoại tiết tiết ra dịch tuỵ trong tiêu hóa và phần tuỵ nội tiết tiết ra insulin và glucagon và một vài hormon khác.
    A 
    B   Tuyến tuỵ (A), Lát cắt ngang tuyến tuỵ (B)
    Các tế bào phần tuỵ nội tiết gồm tế bào α (chiếm 25%), õ (chiếm 70%), tế bào α và các tế bào khác. Các tế bào này tập trung thành đảo tuỵ (gọi là đảo Langerhans), trong đảo tế bào õ ở giữa  tiết  ra  insulin,  tế  bào  α  ở  xung  quanh  tiết  ra  glucagon,  tế  bào  khác  rải  rác  tiết  ra somatostatin và gastrin.
    Thí  nghiệm  cắt  bỏ  tuyến  tuỵ,  trường  hợp  nhược  năng  tuyến,  gây  rối  loạn  chuyển  hóa glucid, lipid và protein, con vật sút cân, ăn khỏe, uống khỏe (khát), đái nhiều, pH giảm (ngả về acid). Đường huyết tăng cao đến 5-6%, hàm lượng đường trong nước tiểu cũng tăng tới 20- 30g/24giờ. Glycogen dự trữ giảm, gọi là hội chứng đái tháo đường (Diabet). Chuyển hóa lipid ngưng  ở  các  giai  đoạn  trung  gian  (hậu  quả  của  rối  loạn  chuyển  hóa  glucid),  lipid  và cholesterol huyết tăng, xuất hiện các thể cetonic, máu nhiễm acid mạnh. Rối loạn chuyển hóa glucid và lipid làm thiếu năng lượng cung cấp, cơ thể phải huy động protein để bù đắp làm teo cơ, gầy, cân bằng nitơ âm.
    Trường hợp ghép tuyến hoặc tiêm insulin ở con vật bị cắt bỏ tuyến, các hiện tượng trên giảm và biến mất sau vài giờ.
    2. Tác dụng của insulin
    Insulin được hình thành từ preproinsulin, rồi proinsulin. Các enzym chuyển (converting enzym) cắt chuỗi polypeptid C của proinsulin để tạo ra insulin. Là một polypeptid có 51 acid amin, phân tử lượng 6.000, gồm hai chuỗi polypeptid A và B nối với nhau bằng hai cầu nối disulfua.
     Cấu tạo của insulin
    Insulin được tổng hợp sớm nhất, và ngày nay, nhờ kỹ thuật gen và công nghệ sinh học, insulin đã được sản xuất hàng loạt, nhanh và rẻ hơn. 1 đơn vị quốc tế của insulin là 0,04167 mg tinh thể (1 mg xấp xỉ 24 đơn vị).
     Chu trình sản xuất insulin của tuyến tụy
    Trong cơ thể, insulin có các tác dụng sau:
    -    Tham gia chuyển hóa glucid, cụ thể là làm giảm hàm lượng đường glucose trong máu. Nó thúc đẩy sự vận chuyển tích cực đường glucose qua màng vào nội bào nhờ các enzym, ATP và sự có mặt ion Mg++. Ở màng tế bào, nó hoạt hóa enzym adenylylcyclase. Đến lượt mình, adenylylcyclase xúc tác tạo thành AMPV (có mặt Mg++) từ ATP. AMP vòng tác dụng tăng tổng hợp enzym hexokinase và hoạt hóa nó để chuyển glucose thành glucose-6  phosphat,  từ  đó  thực  hiện  quá  trình  tổng  hợp  glycogen  dự  trữ,  dị  hóa glucose trong chu trình Krebs hình thành protein và lipid dự trữ.
    -    Đối với lipid thì làm tăng acid béo và mỡ trung tính (từ đường glucose).
    -    Đối  với  protein  làm  giảm  nồng  độ  acid  amin  trong  máu,  tăng  tổng  hợp protein, giảm sự phân giải protein ở gan và cơ, cho nên thiếu insulin cơ thể phải huy động protein và tăng cường dị hóa chúng, làm teo cơ, sút cân, gầy mòn, cân bằng nitơ âm.
    -    Đối với nước và muối khoáng, giúp cho sự thấm ion K+ qua màng vào trong tế bào và ion Na+ ra ngoài dễ dàng hơn. Có tác dụng giữ nước trong cơ thể.
    -    Insulin còn ức chế sự tiết kích tố phát triển (STH) của thùy trước tuyến yên để giải phóng hexokinase trong quá trình phosphoryl hóa đường glucose.
     Tác dụng của Insulin đối với hàm lượng đường trong máu
     
    3. Tác dụng của glucagon
    Glucagon được tiết ra từ tế bào anpha của đảo tuỵ. Nó là một polypeptid mạch thẳng, gồm 29 acid amin, trọng lượng phân tử 3.485.
    Tác dụng chính của glucagon là: 
    -    Chuyển  hóa  glucid  bằng  cách  chuyển  ngược  glycogen  dự  trữ  thành  đường glucose trong máu, nghĩa là làm tăng đường huyết, cơ chế này thông qua việc hoạt hóa enzym phosphorylase.
    -    Đối với lipid, nó tăng phân giải lipid. Đối với protein, nó tăng cường dị hóa, qua đó làm tăng ure huyết.
    -    Trong hệ nội tiết, glucagon kích thích phần tủy tuyến trên thận làm tăng tiết adrenalin, kích thích chính đảo tuỵ (các tế bào α) tăng tiết insulin, nhằm luôn duy trì được sự cân bằng đường huyết.
    Hàm lượng glucagon trong máu bình thường là 0,3 microgam/lít. Hàm lượng tăng khi đói và giảm khi no hoặc ăn nhiều đường.
    4. Các hormon khác
    Ngoài ra, người ta cũng còn tách chiết được một vài hormon khác từ phần tuỵ nội tiết.
     
    Gửi ý kiến

    Truyện cười

    Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Huyện Hương Sơn Hà Tinh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.