Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WEB THỐNG KÊ GDTH

    Tư liệu

    Dieu_che_oxygen.flv 2207243317987427219.flv 355.JPG Bao_cao_chuyen_de_thang_9.JPG 9818EAE08260474CAC594DAF8F3DDF2F.flv 981EFD781C4940388FC14A5734415246.flv Xa.jpg 53302355_2292613371013010_8821122614140338176_n.jpg Anh_Giao_luu_Van_hay_chu_dep_chao_mung_ngay_2011_2018.jpg IMG20181109070531.jpg Thu.jpeg Thao.jpeg Linh.jpeg CA_NHAN_DAT_GIAI.jpeg CA_NHAN_LAM_BAI.JPG CA_NHAN_2.JPG Anh_vo_giao_luu.JPG IMG20180920165017.jpg IMG20180920165038.jpg IMG20180920165038.jpg

    Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Tra cứu Từ điển


    Tra theo từ điển:



    Tham khảo lịch vạn niên

    Thời tiết vùng Nghệ Tĩnh

    Đọc Báo mới

    Gốc > Tham khảo: Địa lý - Hành chính - Tài nguyên - Du lịch >

    Hải Thượng Lẫn Ông Lê Hữu Trác

          untitled1 

    Đầu thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam quay cuồng trong cơn binh lửa giữa nạn tranh giành quyền lực vua Lê – chúa Trịnh khiến trăm họ lầm than, muôn dân cơ hàn, đói rét, bệnh tật… Tại thôn Văn Xá, xã Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương bấy giờ (nay thuộc xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên), vào năm Canh Tý (1720) ngày 17 tháng 11 (âm lịch), có một con người được sinh ra mà sau này trở thành ngôi sao sáng của YHCT và hiện đại về y đức, y thuật.

    Đại danh y Lê Hữu Trác, còn có tên khác là Lê Hữu Huân, sau lấy hiệu là Hải Thượng Lãn Ông. Gia đình Lê Hữu Trác vốn là một danh gia vọng tộc. Thân sinh ông là Tiến sĩ Lê Hữu Mưu, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Công, sau được truy phong chức Thượng thư. Anh trai là Lê Hữu Kiểm, đậu Tam Giáp Tiến sĩ. Mẹ là Bùi Thị Thường, quê xứ Bàu Thượng, xã Tịnh Diện (nay là xã Sơn Quang), huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.

    Lê Hữu Trác đã từng học binh thư, luyện võ, đăng lính. Thống soái của Chúa Trịnh nể tài ông, bao phen tiến cử nhưng vì chán ghét cảnh binh đao, ông tìm mọi cách từ chối. Năm 1746, khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh để xin ra khỏi quân đội.

    Giải ngũ, ông mang theo bệnh tật, còn phải gánh vác công việc gia đình nên sức ngày một yếu; lại sớm khuya đèn sách, không chịu nghỉ ngơi nên mắc cảm nặng, chạy chữa tới 2 năm mà không khỏi. Một ngày, ông gặp được lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chạy chữa. Trong thời gian chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, liền đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.Ông làm nhà cạnh rừng, đặt tên hiệu Lãn Ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mới mà thấy yêu thích, gắn bó.

            Vốn sẵn uyên thâm về thiên văn, địa lý, nhân sự và tài trong pháp thuật âm - dương nên ông học thuốc rất nhanh. Ông luôn tâm niệm: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên lo tính mạng con người; phải lo cái lo của con người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc chữa bệnh cứu người làm nhiệm vụ của mình, không được mưu lợi, kể công”; “thầy thuốc là người có nhiệm vụ bảo vệ sinh mạng người ta: Lẽ sống chết, điều phúc họa đều ở trong tay mình xoay chuyển, lẽ nào người có trí tuệ không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà dám theo đòi bắt chước học nghề y”.Ông tự đặt ra cho người thầy thuốc chân chính sống theo tám chữ “Nhân - Minh - Đức - Trí - Lượng - Thành - Khiêm - Cần (tức là nhân ái, sáng suốt, đức độ, hiểu biết, rộng lượng, thành thực, khiêm tốn, cần cù), đồng thời, tránh 8 tội: lười biếng, keo kiệt, tham lam, dối trá, dốt nát, bất nhân, hẹp hòi, thất đức. Ông kịch liệt phê phán những người lợi dụng ngành y để mưu lợi: “bắt bí người ta trong đêm mưa gió khó khăn... bệnh dễ thì trộ là bệnh khó, bệnh khó thì dọa là bệnh chết, dối mình để mưu cầu cho mình... Đối với kẻ giàu sang thì sốt sắng để mong được lợi; đối với người nghèo khó thì lạnh nhạt, thờ ơ...”.Suốt cuộc đời hành nghề, ông càng minh chứng cho những điều nói trên. Ông tận tụy với người bệnh, không quản đêm hôm mưa gió, đường sá xa xôi, cách trở hay khi bản thân đang mệt mỏi, ốm đau... ông đều đến tận nơi, xem bệnh cụ thể rồi mới cho thuốc. Bệnh nặng cần mua thuốc tốt, ông sẵn sàng bỏ tiền để cứu bệnh nhân dù biết rằng sau này bệnh nhân không có khả năng hoàn trả. Ông luôn thận trọng và hy sinh cả những thú vui riêng tư “mang rượu trèo non, chơi bời ngắm cảnh” vì “nhỡ khi vắng mặt, ở nhà có người đến cầu bệnh nguy cấp thì phụ lòng trông mong của họ, lỡ nguy hại đến tính mạng...”. Ông hết lòng thương yêu người bệnh, đặc biệt đối với tầng lớp nghèo khổ, vợ góa con côi bởi vì Hải Thượng Lãn Ông biết rằng “kẻ giàu sang không thiếu gì người chăm sóc, người nghèo hèn không đủ sức để mời danh y”…Ngoài đề cao y đức, Hải Thượng Lãn Ông còn là người đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam đặt nền móng xây dựng y thuật. Trong quá trình làm thuốc, ông dành nhiều thời gian viết cuốn “Y Tông Tâm Lĩnh” và dạy học. Ông không những chu đáo, thận trọng trong khám chữa bệnh, kê đơn bốc thuốc, mà còn quan tâm đặc biệt đến các trước tác.Hải Thượng Lãn Ông cho rằng muốn làm thầy thuốc giỏi phải học tập không ngừng. Ông tiếp thu kinh nghiệm của người xưa một cách có chọn lọc, linh hoạt, sáng tạo, không hề rập khuôn máy móc. Từ đó, ông có quan điểm về nhận định bệnh tật và phương pháp điều trị sáng tạo phù hợp với đặc điểm phong thổ, khí hậu và đặc điểm của con người Việt Nam.Ông để lại cho đời sau một bộ sách đồ sộ quý giá là bộ “Hải Thượng Lãn Ông Y Tông Tâm Lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển, trong đó, đề cập đến toàn bộ các vấn đề nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, thương khoa, truyền nhiễm, cấp cứu, y đức, vệ sinh phòng bệnh, phương pháp nuôi dưỡng, chế biến các món ăn dinh dưỡng... Ông đúc kết hàng ngàn bài thuốc hay và phát hiện bổ sung hơn 350 vị thuốc mới để đồng nghiệp đương thời và các thế hệ mai sau cùng nghiên cứu, sử dụng…Năm Tân Hợi (1791), ngày Rằm tháng Giêng, tại Bầu Thượng (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác khuất bóng, nhưng những gì ông để lại cho đời vẫn tiếp tục toả sáng.

           Nhằm vinh danh và kế thừa tấm gương lớn, năm 2000, Bộ Y tế đã chính thức lấy ngày huý kỵ của ông làm ngày truyền thống y dược cổ truyền Việt Nam; khu di tích lịch sử văn hoá và nhà thờ Hải Thượng Lãn Ông được đầu tư tôn tạo, xây dựng điểm tham quan, học tập về y đức, y đạo và y thuật. 


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Cảnh @ 07:23 17/02/2011
    Số lượt xem: 1607
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Truyện cười

    Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Huyện Hương Sơn Hà Tinh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.