Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WEB THỐNG KÊ GDTH

    Tư liệu

    PHAT_THANH_MANG_NON_THANG_11.mp3 Received_1757593700979765.jpeg 20171120_095434.jpg 20171113_104111.jpg 20171111_081522.jpg 20171111_081023.jpg 23736358_754638778078691_3231540032224104349_o.jpg B612_20171120_090611.jpg B612_20171120_090604.jpg B612_20171120_090751.jpg B612_20171120_090359.jpg B612_20171120_090433.jpg B612_20171120_084921.jpg B612_20171120_085114.jpg B612_20171120_084518.jpg B612_20171120_084528.jpg B612_20171120_083242.jpg B612_20171120_083044.jpg 22894165_1958933974351372_1151847795391206399_n.jpg

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Tra cứu Từ điển


    Tra theo từ điển:



    Tham khảo lịch vạn niên

    Thời tiết vùng Nghệ Tĩnh

    Đọc Báo mới

    Tài liệu chuyên đề Y tế trường học

    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Giang Nam
    Ngày gửi: 17h:13' 09-04-2013
    Dung lượng: 7.0 MB
    Số lượt tải: 345
    Số lượt thích: 0 người
    CHUYÊN ĐỀ
    PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRONG TRƯỜNG HỌC
    Nội dung bài trình bày
    PHẦN I. TÌNH HÌNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRẺ EM
    PHẦN II. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH
    PHẦN I.
    TÌNH HÌNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRẺ EM

    I. Định nghĩa tai nạn thương tích
    - “Tai nạn” là một sự kiện bất ngờ xảy ra, không có nguyên nhân rõ ràng và khó lường trước được.
    “Thương tích” là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tiếp xúc cấp tính với các nguồn năng lượng (năng lượng có thể là cơ học, nhiệt, hóa học, điện, hoặc phóng xạ) với những mức độ, tốc độ khác nhau quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu hụt các yếu tố cơ bản của sự sống (ví dụ như thiếu ô xy trong trường hợp đuối nước, bóp nghẹt, giảm nhiệt độ trong môi trường cóng lạnh). Thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích thường rất ngắn (vài phút).
    “Thương tích” hay còn gọi là “Chấn thương” không phải là “Tai nạn”, mà là những sự kiện có thể dự đoán trước được và phần lớn có thể phòng tránh được, thương tích gây ra thiệt hại về thể chất và tinh thần cho một người nào đó.
    II. Thực trạng tai nạn thương tích ở trẻ em tại Việt Nam
    -Trên cả nước, trung bình hàng ngày có 10 trẻ em bị chết đuổi, độ tuổi từ 07 – 15 tuổi, cao nhất khu vực Đông Nam Á.
    -Tai nạn giao thông là nguyên nhân thứ hai dẫn đến tử vong sau chết đuối. Mỗi năm trung bình có khoảng 12.000 – 14.000 người chết và trên 20.000 người bi thương do tai nan giao thông, trong đó trẻ em chiếm khoảng 35%.
    Biểu đồ tai nạn thương tích
    Hình 1: Phân bố tử vong do TNTT ở trẻ em theo nhóm tuổi từ 2005-2010
    Bảng 1: 10 nguyên nhân có tỷ suất tử vong trẻ em 0-19 tuổi cao nhất 2010
    Bảng 2. Phân bố tỉ suất tử vong do TNTT/100.000 trẻ
    theo nguyên nhân theo nhóm tuổi
    III. Các loại tai nạn thương tích ở trẻ em – Nguyên nhân và các biện pháp tuyên truyền phòng chống.
    * Tai nạn thương tích ở trẻ em gồm một số loại như sau:
    - Ngã
    - Bỏng/cháy
    - Tai nạn giao thông
    - Ngộ độc các loại
    - Cắt, đâm
    - Ngạt thở, hóc nghẹn
    - Súc vật cắn
    - Chết đuối/đuối nước
    - Bạo lực
    - Bom, mìn/vật nổ
    - Điện giật
    Các loại thương tích khác
    *Tai nạn thương tích trẻ em đang trở thành một vấn đề y tế công cộng đe dọa đến sự sống còn và phát triển của trẻ em. Theo kết quả điều tra, gần 70% các ca tử vong trẻ em trên 01 tuổi là do tai nạn thương tích gây ra; trên 71% các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích là do các tai nạn thương tích không chủ ý như: tai nạn giao thông, đuối nước, ngã, ngộ độc, điện giật, ngạt, hóc nghẹn…
    1. Ngã
    Ngã và những chấn thương do ngã là những tai nạn rất thường gặp ở trẻ em, ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi lúc và mọi nơi. Ngã để lại những hậu quả trước mắt và lâu dài, nhiều khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng cũng như tính mạng của trẻ.
    1.1. Nguyên nhân:
    - Do trẻ thiếu ý thức và kiến thức
    + Với đồ dùng, đồ chơi trên giá cao.
    + Ngồi trên bậu cửa sổ, lan can không có tay vịn.
    + Nhảy từ trên cao xuống (từ bàn, ghế…)
    + Chơi những trò chơi không an toàn.
    + Chạy nhảy, đuổi nhau, leo cây, trèo cầu thang…
    Do người lớn thiếu kiến thức và ý thức, không trông nom trẻ đúng cách (đặc biệt là đối với trẻ sơ sinh) để trẻ:
    + Ngã từ trên giường, võng gây tổn thương sọ não, cột sống.
    + Do bế tuột tay có thể dẫn đến chấn thương sọ não hoặc trật khớp…
    - Môi trường có nhiều yếu tố nguy cơ:
    + Nhà cao tầng.
    + Cầu thang không đúng tiêu chuẩn…

    1.2. Công tác tuyên truyền:
    - Tuyên truyền giáo dục hướng dẫn trẻ em biết những hoàn cảnh có thể gây nên ngã và các hậu quả của ngã để có tác dụng giáo dục, răn đe.
    - Phổ biến kiến thức phổ thông cho người chăm sóc trẻ và trẻ (đối với trẻ lớn) các kiến thức sơ cứu ban đầu trong trường hợp một trẻ bị thương do ngã.
    - Quản lý các em nhất là trong dịp nghỉ hè: Trẻ không được leo trèo cột điện, mái nhà, trèo cây hái quả, bắt chim, không chạy thả diều trên sân thượng, gần ao, hồ, sông, ngòi hay lòng đường...
    - Hướng dẫn và tổ chức cho các em hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh: thăm quan, cắm trại, có sân bóng riêng.
    - Xây dựng môi trường an toàn: Biển báo nguy hiểm, báo cấm (cấm đi, trèo...) ở những nơi cần thiết.
    - Thực hiện mô hình ngôi trường an toàn: cần có chấn song, rào chắn ở các cửa sổ, ban công...
    - Không để cho trẻ nhỏ dưới 10 tuổi trông trẻ nhỏ dưới 3 tuổi.
    - Cần có người giám sát và trông trẻ.
    2. Bỏng/Cháy
    Bỏng là tổn thương của cơ thể ở mức độ khác nhau do tác dụng trực tiếp với các nguồn năng lượng: sức nóng, điện, hóa chất, bức xạ… để lại di chứng sẹo, tàn tật, thậm chí dẫn đến tử vong.
    2.1. Nguyên nhân
    Trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ 02 - 05 tuổi dễ bị bỏng vì bản tính trẻ em rất hiếu động, tò mò, và nhiều khi do sự bất cẩn của người lớn.
    * Bỏng có 4 loại
    - Bỏng nhiệt ướt: bỏng do nước sôi, nồi canh hoặc nồi cám lợn sôi… Đây là nguyên nhân chủ yếu. Tai nạn thường xảy ra khi phích nước sôi, đồ ăn nóng để ở trong tầm với hoặc lối đi của trẻ. Tai nạn còn xảy ra khi trẻ nấu ăn giúp bố mẹ.
    - Bỏng nhiệt khô: bàn là, ống bô xe máy, lửa, hơi nóng của lò nung… Thường do người lớn không chú ý hoặc trẻ nghịch ngợm, đốt lửa sưởi, đốt rơm rạ, đánh đổ dầu xăng gây bắt lửa…
    - Bỏng hoá chất: bỏng do vôi tôi, bỏng axít, kiềm… Do trẻ nô đùa cạnh hố vôi mới tôi sơ ý tụt chân xuống, sử dụng nhầm a xít.
    - Bỏng sét đánh/điện giật: Do trẻ nghịch điện hoặc do sét đánh thường rất nặng gây chết người do cháy hoặc ngừng thở ngừng tim.

    2.2. Công tác phòng tránh và tuyên truyền phòng chống bỏng:
    - Bố trí bếp nấu ăn hợp lý. Để bếp lò phẳng, cao ngoài tầm với hoặc có vách ngăn không cho trẻ nhỏ tới gần. Khi nấu luôn quay cán xoong, chảo vào phía trong
    - Không cho trẻ chơi, nô đùa nơi đang nấu ăn.
    - Không để đồ vật đựng nước nóng trong tầm với trẻ em (nồi canh, phích nước, vòi nước nóng, bàn là đang nóng, ống bô xe máy ...).
    - Khi bê nước nóng, thức ăn mới nấu: tránh xa trẻ để không va đụng.
    - Luôn kiểm tra nhiệt độ của thức ăn, đồ uống trước khi cho trẻ ăn, uống; nhiệt độ nước tắm rửa.
    - Không để trẻ nhỏ tiếp xúc với diêm, bật lửa, lửa, nước sôi, thức ăn nóng, bếp đang đun...
    - Không để trẻ tự tắm với vòi nước nóng lạnh.
    - Luôn trông trẻ đúng cách, để mắt đến trẻ.
    - Quản lý chặt chẽ chai lọ đựng hoá chất như chất tẩy rửa, acid.
    -
    2.2. Công tác phòng tránh và tuyên truyền phòng chống bỏng (tiếp)
    - Đặc biệt đối với trẻ nhỏ: không vừa bế trẻ vừa ăn, uống thức ăn nóng.
    -Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các tài liệu bằng tranh ảnh, tờ rơi, panô, áp phích, sổ tay những nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ về tác hại, biểu hiện, cách phòng tránh, phương pháp sơ cứu thông thường
    Có những buổi phát thanh về cách phòng tránh tai nạn thương tích nói chung, tai nạn bỏng nói riêng
    Tổ chức các buổi sinh hoạt, trong các cơ sở trường học, những điểm các em hay tập trung để phổ biến và hướng dẫn những kiến thức phổ thông về phòng tránh bỏng..
    - Tập huấn, hướng dẫn về phương pháp sơ cứu bỏng.
    3.Tai nạn giao thông:
    Tai nạn giao thông là những sự cố bất ngờ xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, gây ra bởi các phương tiện và người tham gia giao thông.
    Tỷ lệ tử vong cao thứ 2 sau đuối nước
    1867 trường hợp một năm, chiếm tỷ lệ khoảng 24% - 26% tổng số trẻ tử vong do tai nạn thương tích.
    Nhóm tuổi từ 15-19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với trên 70%.
    Tỉ lệ dưới 14 tuổi bị CTSN do TNGT là 6,6%.
    3.1. Nguyên nhân tai nạn giao thông
    Tai nạn giao thông do con người tham gia giao thông:
    + Người tham gia giao thông không chấp hành luật và các quy định về an toàn giao thông. Người đi bộ chạy qua đường bất ngờ, không quan sát, đùa nghịch đu bám tàu xe, đá bóng dưới lòng đường, phơi rơm rạ trên đường giao thông.
    + Người đi xe đạp dàn hàng 3, lạng lách, vượt ẩu trước mũi xe máy, ô tô...
    + Người đi xe máy phóng nhanh, lạng lách.
    + Lái xe ô tô uống rượu bia, không kiểm soát tốc độ...
    + Đặc biệt nguy hiểm đối với các trường hợp vô ý thức có hành vi nguy hiểm gây chết người như: rải đinh trên đường cao tốc, ném đá lên tàu, tháo ốc vít trên đường ray tàu hoả...
    -Tai nạn giao thông do các phương tiện giao thông: Chất lượng xe cộ thấp kém, xe thiếu các thiết bị an toàn. Phương tiện vận chuyển không an toàn.
    - Tai nạn giao thông do đường xá chất lượng xấu, thiếu biển báo, đèn hiệu, đèn chiếu sáng...
    3.2. Cách phòng tránh
    - Tuyên truyền phổ biến luật giao thông cho học sinh, phụ huynh học sinh.
    - Tuyên truyền để các em thấy rõ các tình huống dẫn tới tai nạn giao thông (TNGT), những nguy cơ và hiểm hoạ của TNGT. Giúp các em có những hiểu biết, tuân thủ các qui tắc, luật lệ về an toàn giao thông.
    - Tổ chức các hoạt động do các em tham gia làm chủ như: Thành lập nhóm tuyên truyền của trẻ em, học sinh ở các trường học, thôn xóm, khu dân cư để cung cấp các kiến thức phòng tránh TNGT.
    - Tổ chức cho các em các cuộc thi tìm hiểu về luật giao thông.
    - Hướng dẫn trẻ cách đi lại an toàn:
    + Trang bị mũ bảo hiểm khi trẻ dùng xe đạp hoặc tham gia giao thông cùng với người lớn.
    + Ghế an toàn cho trẻ em khi đi xe đạp/máy do người khác đèo.
    + Thắt dây an toàn khi ngồi trên ôtô.
    - Tham gia tập huấn và nắm vứng các kiến thức cũng như sơ cứu ban đầu khi xảy ra tai nạn giao thông.
    - Các cách phòng tránh tai nạn giao thông thủy chủ yếu là:
    + Mặc áo phao.
    + Không chen lấn xô đẩy khi ở trên tàu, phà.
    + Tuyệt đối tuân theo những quy định an toàn trên tàu (không thò chân, tay… ra ngòai cửa sổ của tàu thuyền).
    4.Tự tử
    1 vấn đề luôn nóng, mang tính thời sự, ngày càng tăng, trẻ hóa.
    Nhóm tuổi 15-19 có tỷ suất tử vong cao nhất (4,4/100.000 trẻ).

    5.Ngộ độc
    Ngộ độc đứng thứ tư gây tử vong
    10% số trường hợp xảy ra ở nhóm trẻ em và VTN
    5.1: Khái niệm ngộ độc:
    Khi một chất vô cơ hoặc hữu cơ dạng khí, lỏng hoặc rắn lọt vào cơ thể và gây tác động xấu cho sức khoẻ được gọi là Ngộ độc.
    Có hai loại ngộ độc,ngộ độc cấp và ngộ độc mãn. Ngộ độc cấp gây nguy hiểm tới tính mạng trẻ em.
    - Ngộ độc cấp: khi chất độc vào cơ thể và gây nguy hại tức thì hoặc sau một vài giờ thì gọi là ngộ độc cấp, ví dụ như uống phải thuốc trừ sâu, chất axít hoặc chất kiềm mạnh, các loại thuốc tẩy rửa, ăn thức ăn ôi thiu...
    - Ngộ độc mãn: Khi con người thường xuyên tiếp xúc với chất độc liều lượng thấp, các loại hoá chất lâu dần dần tác hại đến các cơ quan nội tạng thì gọi là ngộ độc hoặc nhiễm độc mãn tính, ví dụ như ngộ độc chì ở những người có tiếp xúc với xăng dầu...
    - Các loại ngộ độc thường gặp ở trẻ :
    + Hóa chất: chất tẩy rửa (xà phòng, thuôc tẩy), xăng dầu, a xít, thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột…
    + Thuốc uống: uống thuốc quá liều, quá hạn, thuốc bẩn/ẩm, uống nhầm.
    + Khí: khí ga, khói bếp than tổ ong.
    + Thức ăn có có chất độc như: nấm độc, cá nóc, các loại cây/quả có chất độc
    + Các thức ăn không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: thức ăn ôi thiu.
    5.2. Nguyên nhân
    - Ăn phải thức ăn ôi thiu, bảo quản không tốt bị ươn thối, nhiễm vi khuẩn hoặc ăn phải nấm, cây quả dại chứa chất độc.
    - Nuốt phải các chất độc như thuốc diệt chuột, trừ sâu, dầu lửa, xà phòng, thuốc chữa bệnh....
    - Uống các loại nước ngọt có ga hoặc ga dùng giải khát được sản xuất không đúng quy trình an toàn vệ sinh hoặc uống phải nước thiên nhiên có chứa chất độc như thạch tín, chì, thuỷ ngân.
    - Qua đường hô hấp: Chất độc bị hít vào phổi. Trẻ hít phải khí độc: Khí ủ lò than, bình ga, hoá chất trong bình diệt gián…
    5.3. Cách phòng tránh
    - Cần phải tuyên truyền để các bậc cha mẹ, người chăm sóc trẻ hiểu sự phát triển thể chất và tâm sinh lý của trẻ qua từng độ tuổi để nhắc nhở và giúp trẻ hiểu biết phòng ngừa ngộ độc.
    - Tuyên truyền cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ và bản thân trẻ các nguyên nhân, hậu quả của ngộ độc để biết cách phòng tránh.
    - Xây dựng môi trường an toàn: Sử dụng nguồn nước đảm bảo vệ sinh.
    - Xây dựng ngôi nhà an toàn: Những vật dụng trong nhà có đựng các chất có thể gây ngộ độc cho trẻ (thuốc chữa bệnh, xà phòng, hoá chất trừ sâu, thuốc diệt chuột, thuốc tẩy rửa, bình xịt muỗi, ga....) cần cất ở nơi kín đáo để xa tầm tay trẻ.
    6.Đuối nước
    -Khi có sự xâm nhập đột ngột và nhiều của nước hoặc chất dịch vào đường thở (mũi, mồm, khí phế quản, phổi) làm cho không khí có chứa oxy không thể vào phổi được gọi là đuối nước. Hậu quả là não bị thiếu oxy, nếu không được cấp cứu kịp thời nạn nhân sẽ bị chết hoặc để lại di chứng não nặng nề.
    -Trẻ em sức yếu nên rất dễ bị ngạt thở chỉ trong vòng thời gian 2 phút và với trẻ nhỏ, chỉ với lượng nước nhỏ như một xô nước cũng có thể làm trẻ chết đuối.
    6.1. Nguyên nhân đuối nước
    - Do người lớn, trẻ em thiếu ý thức, kiến thức về mối nguy hiểm, các yếu tố nguy cơ, và kỹ năng phòng tránh đuối nước. Các kỹ năng cần đặc biệt chú ý là: trông trẻ, dạy bơi, cứu đuối…
    Nguyên nhân đuối nước ( tiếp)
    - Do bản tính hiếu động, tò mò với các trẻ lớn tuổi hay với trẻ nhỏ là do tính thích nghịch nước hoặc do sự bất cẩn của gia đình. Có nhiều hoàn cảnh có thể gây đuối nước trẻ em như các giếng nước, bể nước, chum vại, chậu có miệng nhỏ, bồn tắm…không được rào, chắn, đậy cẩn thận.
    - Do môi trường có những yếu tố nguy cơ như :
    + Chum vại, bể nước… không có nắp đậy an toàn.
    + Sông, hồ, suối, ao… không có biển báo nguy hiểm, rào.
    + Lũ lụt xảy ra thường xuyên.
    + Những nơi có sông suối hồ ao, trẻ em không biết bơi hoặc biết bơi nhưng chủ quan không lường hết được sự nguy hiểm.
    6.2. Cách phòng tránh
    * Đối với trẻ nhỏ phải có người trông trẻ:
    - Luôn ở cạnh trẻ trong phạm vi 05m, đảm bảo bạn luôn nhìn thấy, nghe thấy trẻ.
    Trong trường hợp bạn bắt buộc phải làm việc, hãy cho trẻ vào cũi. Bạn nên nói chuyện với trẻ trong lúc làm việc để trẻ thấy mình vẫn được quan tâm.
    - Tuyệt đối không để trẻ duới 10 tuổi trông trẻ bé hơn.
    Học kỹ thuật sơ cấp cứu, hà hơi thổi ngạt.
    * Làm cho môi trường xung quanh con bạn an toàn hơn:
    Rào ao, các hố nước, rãnh nước quanh nhà và làm cổng chắc chắn trẻ không tự mở được, giữ cổng luôn đóng.
    - Đổ nước trong các xô, chậu, đồ chứa nước khi không cần dùng.
    - Luôn đậy nắp giếng, bể… bằng các nắp đậy an toàn (cứng, trẻ dẫm lên không lọt).
    * Phòng tránh để không xảy ra tai nạn:
    - Tuyên truyền hướng dẫn gia đình, những người trực tiếp chăm sóc, quản lý trẻ và bản thân trẻ về nguyên nhân hậu quả của đuối nước.
    - Định hướng các hoạt động sinh hoạt, vui chơi tập thể để thu hút trẻ vào các hoạt động an toàn lành mạnh.
    - Hướng dẫn cho trẻ học bơi theo trường lớp có người quản lý.
    - Kịp thời phát hiện các yếu tố nguy cơ để hạn chế tiếp xúc.
    - Phòng tai nạn đuối nước trong gia đình bạn bằng cách rào quanh ao hoặc nơi có nước sâu để bảo vệ trẻ em.
    - Giếng, bể, chum vại, chậu nước và thùng nước phải có nắp đậy an toàn và chắc chắn.
    - Hố vôi tôi đã sử dụng hết cần lấp kín để tránh các em chơi đùa bị rơi xuống hố.
    - Trong mùa mưa lũ, cần phải có biển báo những chỗ nước sâu, nguy hiểm và nhắc nhở trẻ em tuân theo các lời chỉ dẫn.
    - Luôn ở cạnh trẻ và theo dõi sát khi chúng tắm hoặc chơi ở chỗ có nước.
    - Không được để trẻ đi tắm bơi lội ở ao hồ một mình mà không có người lớn biết bơi đi kèm.
    7. Cắt, đâm (vật sắc nhọn)
    Tai nạn gây ra bởi các vật sắc nhọn là một loại hình thương tích rất thường gặp ở trẻ em, xảy ra với mọi lứa tuổi, mọi nơi, mọi lúc. Thương tích do vật sắc nhọn có thể gây ra nhiều hậu quả với các mức độ khác nhau, từ nhẹ (xây xát ngoài da, phần mềm…) đến nặng ảnh hưởng nghiêm trọng tới chức năng (nhiễm trùng, hoại tử chi…), thậm chí rất nặng gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.
    7.1. Nguyên nhân:
    - Do trẻ thiếu hiểu biết, hiếu kỳ.
    - Do cha mẹ thiếu quan tâm, thiếu kiến thức.
    - Do môi trường không an toàn.
    7.2. Cách phòng tránh
    * Đối với cha mẹ, người chăm sóc trẻ và các nhà quản lý:
    - Tuyên truyền giáo dục cho trẻ biết được các hoàn cảnh có thể dẫn đến tai nạn thương tích do vật sắc nhọn, các hậu quả do nó để lại… với tác dụng ngăn ngừa, răn đe.
    - Xây dựng môi trường an toàn: để ngoài tầm với của trẻ tất cả các vật sắc nhọn có thể gây nguy hại như: dao, kéo, dùi đục, kim, đinh…, bao bọc các đầu sắc nhọn của các đồ vật trong nhà, dựng hàng rào ngăn cách trẻ tới các chỗ nguy hiểm…
    - Tổ chức và giám sát chặt chẽ để trẻ có được các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.
    - Trang bị kiến thức tối thiểu cho cha mẹ, người giám sát, các cộng tác viên và các nhân viên y tế biết cách sơ cứu ngay tại chỗ trong trường hợp tai nạn do vật sắc nhọn gây nên.
    8. Ngạt thở, hóc nghẹn
    - Ngạt thở, tắc đường thở là tình trạng trẻ em không thở được do bất kỳ một vật gì gây cản trở không cho không khí qua được mũi và miệng trẻ.
    - Nếu không được cấp cứu kịp thời chỉ sau 3 phút bị ngạt thở, trẻ sẽ bị di chứng não suốt đời. Nếu không được cấp cứu, chỉ trong vòng 5 phút, trẻ sẽ bị tử vong.
    * Những dấu hiệu chung thường gặp khi bị tắc đường thở.
    - Trẻ tím tái, ho sặc sụa, trào nước mắt nước mũi.
    - Trẻ không phát âm được, hoặc không thể khóc thành tiếng.
    - Trẻ phải lấy tay nắm lấy cổ của mình.
    - Nếu muộn: Môi và lưỡi trẻ bắt đầu tím tái và trẻ có thể bất tỉnh nếu vật gây tắc không lấy được ra.
    8.1. Nguyên nhân
    - Hóc, nghẹn thức ăn hoặc dị vật (hóc xương, hạt na, hòn bi, đồng xu, cúc áo...) thường xảy ra khi trẻ nghịch ngợm đút vào mũi, miệng.
    - Sặc nước/sữa, sặc bột, sặc thức ăn hoặc dị vật , thường xảy ra khi trẻ vừa ăn vừa khóc, chạy hoặc cười đùa.
    - Mũi và miệng trẻ bị bịt kín bởi túi nilon, chăn hoặc vải dầy thường xảy ra với trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, nằm ngủ úp trên đệm, gối quá mềm. Nguy cơ này còn xảy ra ở các trẻ lớn hơn khi các cháu đùa nghịch lấy bao ni lông, chăn, gối… trùm qua đầu.
    - Đuối nước hoặc bị vùi lấp bởi đất, cát....
    8.2. Cách phòng tránh
    * Đối với trẻ nhỏ (dưới 5 tuổi)
    - Trông trẻ đúng cách vẫn là cách tốt nhất.
    - Cho trẻ ngủ trên đệm cứng, nằm ngiêng hoặc ngửa, để các vật dễ gây ngạt đường thở cho trẻ như túi ni lông, báo, gối, chăn, đệm quá êm xa chỗ trẻ nằm.
    - Để ra xa tầm tay của trẻ các vật nhỏ như kim băng, đồng xu, hạt trái cây và các vật nhỏ dễ cho vào mũi, miệng... Nên để các vật nhỏ trên giá cao trẻ không với tới, hoặc để trong các hộp, tủ có khóa.
    - Khi cho trẻ em ăn bột, ăn cơm chú ý không để đầu trẻ ngả về phía sau, không để trẻ vừa ăn vừa cười đùa dễ làm thức ăn lọt vào đường thở gây hóc nghẹn.
    - Cho trẻ nhỏ ăn thức ăn nghiền nát, không lẫn xương, lẫn hạt và cho ăn từng tí một. Tạo cho trẻ thói quen ăn chậm nhai kỹ.
    - Chỉ cho trẻ chơi những đồ chơi có đường kính lớn hơn 05cm.
    - Không mặc các loại áo, yếm có dây vòng qua cổ cho trẻ nếu trẻ không có người lớn trông trẻ.
    * Đối với trẻ lớn hơn (6-12 tuổi):
    - Nhắc trẻ không vừa ăn, uống vừa cười đùa, chạy nhảy.
    - Dạy các cháu cách sơ cứu trên nếu các cháu phải trông trẻ nhỏ hơn.
    Trong mọi trường hợp, người trông giữ trẻ phải được học cách sơ cấp cứu ngạt tắc đường thở.
    9. Bạo lực
    Bạo lực tại Việt Nam đang trở thành vấn đề nóng hổi.
    2008-2009: cả nước đã xảy trên 100 vụ giết trẻ em và 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện và xử lý.
    Bạo lực ở trong và ngoài trường học của học sinh vẫn tiếp tục xảy ra đang là nỗi bức xúc của xã hội.
    Bạo lực của học sinh thời gian gần đây bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng như: học sinh đánh nhau gây thương tích, thậm chí tử vong.
    Bạo lực trong gia đình:
    10. Động vật cắn, đốt
    - Ong đốt, Rắn cắn,Chó mèo cắn…
    10.1. Nguyên nhân
    - Do trẻ thiếu hiểu biết, nghịch ngợm.
    - Do người lớn thiếu sự quan tâm, chăm sóc.
    - Do môi trường xung quanh không an toàn.
    10.2. Cách phòng tránh
    - Tuyên truyền cho cha mẹ, những người chăm sóc trẻ và bản thân trẻ sự nguy hiểm khi bị động vật cắn và các loại động vật cắn thường gặp.
    - Hướng dẫn trẻ vui chơi an toàn: không nghịch tổ ong, không trêu chọc chó, mèo và các vật nuôi, không chơi gần các bụi rậm để tránh bị rắn cắn, nếu phải đi qua thì dùng gậy khua vào bụi rậm phía trước, đợi một lúc rồi mới đi qua.
    - Dạy cho trẻ em biết những con vật nguy hiểm, những con vật nào không nguy hiểm. Dạy cho trẻ biết những nơi loài vật nguy hiểm thường ở để lánh xa nơi đó.
    - Dùng đèn pin hoặc đèn chiếu sáng nếu bạn đi vào ban đêm để phòng rắn cắn.
    - Xây dựng môi trường an toàn:
    + Chó, mèo phải được tiêm chủng
    + Không thả chó bừa bãi. Khi cho chó ra đường phải có rọ mõm.
    + Phát quang bụi rậm xung quanh nhà bạn.
    + Phải có người giám sát và chăm sóc để trẻ không lại gần các con vật.
    - Đối với chó mèo và các vật nuôi khác như khỉ… cần dạy trẻ: không trêu chọc khi chúng đang ăn, đang ngủ hoặc đang chăm chó con (cho bú…); không bao giờ để trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ một mình với các vật nuôi trong nhà;; cảnh báo với mọi người nguy cơ bị rắn cắn, đặc biệt là trong khi và sau khi lũ lụt.
    PHẦN II.
    CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRONG TRƯỜNG HỌC
    1. Các văn bản liên quan
    Quyết định số 197/QĐ-TTg ngày 27/12/2001 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chính sách quốc gia PCTNTT giai đoạn 2002-2010
    Quyết định 73/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/12/2007 của Bộ GD-ĐT Ban hành Quy định về hoạt động y tế trong các trường tiểu học,trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
    Quyết định số 170/QĐ-BYT ngày 17/1/ 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn xây dựng Cộng đồng an toàn, PCTNTT.
    Thông tư số 13/2010/QĐ-BGDDT ngày 15/4/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non
    Thông tư liên tịch số 08 2008/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 08/7/2008 của Bộ GD-ĐT và Bộ Y tế về Hướng dẫn công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục
    Chỉ thị 05/CT-BYT ngày 14/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường công tác phòng, chống tai nạn thương tích tại cộng đồng.
    Thông tư liên tịch 18/2011/TTLT-BGDDT-BYT ngày 28/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế quy định các nội dung đánh giá công tác y tế tại các trường tiểu học, trường THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học (trong đó có nội dung PCTNTT trong trường học)
    2. Những yêu cầu phòng chống tai nạn thương tích trong trường học cho tất cả các nhóm trường (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông)
    Xây dựng được quy chế nhà trường an toàn
    Có kế hoạch tổ chức thực hiện và đánh giá từng tháng
    Có mạng lưới phòng chống tai nạn thương tích, bạo lực trong học đường, xây dựng nhà trường an toàn (gồm y tế trường học, các giáo viên chủ nhiệm, ban cán sự lớp, đoàn thanh niên, chữ thập đỏ)
    Có các khẩu hiệu, tranh áp phích phòng chống tai nạn thương tích
    Trường phải có hàng rào che chắn và có người bảo vệ quản lý các cháu tránh ra đường phòng tai nạn giao thông
    Thường xuyên kiểm tra phát hiện và khắc phục tình trạng có thể xảy ra thương tích như tường nhà, cột kèo nhà sắp đổ đường đi lối lại, sân chơi không dễ trơn trượt , các dụng cụ tập luyện thể dục thể thao không đảm bảo, hệ thống điện không an tòan...)
    Có biện pháp can thiệp trực tiếp vào những nơi có thể xảy ra thương tích.
    Nơi tập luyện thể dục thể thao, bơi lội phải đảm bảo an toàn.
    Không có học sinh nghiện, hút ma tuý
    Có các phương tiện, thuốc men để cấp cứu kịp thời khi các cháu bị chấn thương
    80% học sinh trở lên được học về an toàn giao thông
    Không có bạo lực trong học đường
    Không có tai nạn xảy ra trong trường học gây chết người hoặc bị thương nặng phải nằm bệnh viện
    TRÂN TRỌNG CÁM ƠN /

     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    Truyện cười

    Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Huyện Hương Sơn Hà Tinh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.